Thursday, May 5, 2016

Tự Do ơi Tự Do!



Tự Do ơi Tự Do!
Tháng Tư gợi nhắc lắm đau thương.

Tháng Tư Đen!
Ngày lưu vong, ngày đen, ngày Quốc Hận?!
Tự Do ơi Tự Do!
Mấy ngày nay biển động!
Dân đánh lưới cá tôm không ra khơi được, tàu phải nằm chờ hải sản “thu mua” cho đủ số lượng của một chuyến.

Sau này, dưới chế độ cộng sản cai trị, cũng như các ngành nghề lao động khác, người hành nghề đánh cá phải vào “hợp tác xã”, bán hải sản cho cơ quan cầm quyền ở địa phương.
Đến cuối tháng Tư, thời tiết trở nên bất thường hơn.Các chuyến vượt biển bằng ghe tàu nhỏ mất dần cơ hội để ra khơi.
Hồi sáng này gió lại mạnh hơn, có lúc chắc phải hơn bốn mươi cây số một giờ, làm biển động dậy sóng lớn. Không thuyền ghe ra khơi. Không thấy bóng dáng tàu bè nào chạy vào.
Mưa cứ nối nhau, cơn từng cơn, từng cơn ào ạt trút nước lên vạn vật.Bãi biển cạn.Đất bùn.Sóng đùa ì ầm vào bờ. Sóng cuộn nhào đục ngầu màu phù sa nâu đỏ. Trời biển trông thật buồn. Trùng dương xám mù mịt, lòng người chùng xuống ưu tư. Trong âm u mù mịt, biết đâu ngoài biển khơi, những ghe thuyền đi tìm Tự Do của đồng bào Vinh đang chao đảo trong cơn sóng gió hung bạo. Không vướng bận thân quyến đồng hành, chiếc 3392 cùng Vũ và Vinh chắc cũng đã vượt ra khơi từ đêm khuya hôm qua.
Ra đến trạm thu mua, tức là đã qua khỏi trạm công an biên phòng hay căn cứ hải quân rồi. Nhìn đại dương rộng mở, nôn nao mong ước lắm. Người ta liều lĩnh ra khơi bằng ghe tàu mỏng manh hay trong mùa biển động để dễ lọt qua tai mắt theo dỏi và lùng kiếm của công an cùng các lực lượng võ trang trên đất liền cũng như ngoài biển. 
     
Người vượt biên đành phải chọn hiểm nguy trong sóng to gió lớn để vượt thoát chế độ cộng sản ngục tù, chấp nhận đánh đổi tính mạng chính mình vì hai chữ Tự Do.

Tàu đánh cá quanh đây hầu hết thấp hẹp, nên gọn gàng và tốc độ tàu lướt sóng nhanh, để thích ứng với nghề đánh lưới vây, lưới kéo, bắt tôm, cá thu, cá ngân,… Nhưng gặp lúc biển động, ghe tàu nhỏ không dám ra khơi, nằm bến chờ thời và Vinh cũng nằm ở đây theo tàu. Neo tàu nằm bến, bị mất chuyến. Có chuyến chở hàng, có cơm gạo, có thêm cơ hội dò đường chọn cửa biển, được mua dầu để tích trử cho ngày ra khơi.
Thời tiết thế này chán lắm!
Chiều xuống, biển có êm bớt.Bên ngoài còn mưa gió ướt át, ba người gom lại bên trong mui tàu một lúc lâu thì tù túng quá.Chưa đến bốn giờ, trời tối như đã về đêm.Ghe, nhà lấp lánh ánh đèn. Phụ anh Hai, anh rể của Vũ, nấu cơm, rồi ba anh em quay quần ăn cho xong cơm chiều. Độ nhậu hồi sáng với nhân viên khuân vác trên trạm, còn lưu giữ men rượu trong huyết quản. Ngầy ngật, bụng dạ lỡ đói lỡ no. Húp miếng canh, ăn uống qua loa cho xong, Vinh theo anh Hai và Vũ thả lòng vòng lên trạm thu mua, tán dóc với công nhân trên trạm. Khề khà câu chuyện một lúc cho có tình tự làng nước, rồi kéo mấy cái thùng đựng hài sản ướp nước đá xây ra gần ngoài cửa ngồi.
Thùng đựng hài sản có hình dạng khối vuông, được ráp lại bằng sáu miếng nhựa cứng.Vũ và Vinh để mắt đến loại thùng này từ lâu nay. Tháo ra, sáu miếng chồng lên nhau chỉ cao hơn gang tay, gọn lắm. Mỗi miếng, đủ sức làm phao cho một người lớn.Chục thùng tháo ra, không chiếm bao nhiêu chỗ cất giữ trong hầm tàu. Chỉ cần ráp vào, lót tấm ny long lớn cho nước đừng chảy thoát thì thành thùng chứa nước ngay, rất hữu ích khi ra khơi. Tàu cần có một số thùng này khi ra khơi.
Vinh ngồi với Vũ vấn thuốc hút trông chừng tàu, nhìn trời biển, nhìn mưa gió, nhìn người.
Làng đánh cá nghèo. Bây giờ, người dân nghèo nơi đây càng nghèo nàn hơn dưới tai ách cộng sản. Dân đánh cá bị cướp mất quyền tự do đi biển và buôn bán, càng khốn đốn hơn với loại tiền “hồ cáo” của nhà cầm quyền. Mỗi lần đổi tiền, đồng tiền mới lại mất giá trị hơn. Quanh đây, không bông hồng kiêu sa, nhưng những cánh hoa mộc mạc mặn mà, cũng dễ làm những cánh bướm đa tình ươm ấp mộng mơ, lạc lối quên đường.
Từ ngoài khơi nhìn vào, bên trái là văn phòng, kho chứa nước đá và hải sản, bên phải là nơi công nhân cư ngụ.Phần nhà sàn trống lớn chính giữa dành chỗ cho công việc lên hàng và xuống hàng. Mỗi khi tàu mang nước đá cây đến hay lấy hải sản chở về thành phố, không gian nơi đây bừng tỉnh dậy. Đèn sáng choang, tiếng máy át tiếng người. Công nhân viên gọi nhau gom tụ lại nơi đây. Người làm hùng hục, các xếp đi đi lại lại chỉ chỏ. Nhóm người không có gì làm, không trách nhiệm thì tà tà đứng xem chơi cho vui. Căn nhà trống trải bổng chốc trở thành chật chội, người và hàng hoá chen lấn nhau. Sàn nhà ướt lênh láng nước tôm, nước cá cùng nước đá.Thân người làm công thì đẩm ướt mồ hôi.Tiếng người khuân vác chuyện trò ồn ào.Máy phát điện, máy xay nước đá đua nhau chạy rầm rập. Bất kể đang là ban ngày hay giữa lúc đêm khuya, trạm như cái chợ đang nhóm. Người ta hối hả làm cho xong, để nghỉ ngơi hay trở lại nhậu tiếp. Người trên tàu thì chờ nước đá lên hết để dọn dẹp tàu, đi kiếm hàng quán ngồi lai rai nghỉ ngơi, hay lòng vòng trên tàu chờ hàng xuống xong để tháo dây rời bến.
Xong công chuyện, trống vắng lại trở về.
Không có hàng lên hàng xuống, lúc nào có độ ăn uống nhậu nhẹt, trạm mới có phần sống động lại. Mặt trạm xoay ra cầu tàu của khu tiếp nhận hàng để trống thoáng.Gió lớn hắt mưa vào chỉ ướt phía ngoài, bên trong cũng khô ráo dễ chịu.
Nhưng lắm lúc, gian nhà hiền hoà, trông có vẻ vô tội vạ này không chỉ đơn thuần là nơi phục vụ cho việc mua bán hải sản, nó bất chợt bị biến thành cái trại giam và khu tra tấn của bọn cộng sản bất nhân.
Tàu vượt biên không may bị chận bắt được, bọn công an kéo về đây để tra tấn người và vơ vét cướp đoạt tiền của, trước khi giải giao thuyền nhân đến các cơ quan khác. Đồng bào vượt biên bị cột trói, đẩy ngồi lố nhố trên sàn trạm. Không ai biết được bao nhiêu người đang dở sống dở chết, còn lại bên trong chiếc tàu bất hạnh vì tất cả cửa bị công an ra lịnh đóng kín.
Uất hận ngất trời!
Sàn nhà rung chuyển. Không gian náo loạn.Trạm đầy ấp người. Công an, lính võ trang ở địa phương hung bạo la hét, xoay quần những người bị bắt. Thuyền nhân xác xơ với sơ mi tay dài, tay ngắn, có áo trắng, có áo màu, có áo đen bạc mốc… Dân sinh sống ở tỉnh thành hay người trốn đi từ thôn xóm, áo quần cùng giống nhau cái xốc xếch, bê bết dầu máy hay bùn đất. Người bị trói, ngồi co ro, mất thần sắc nhìn những khẩu súng đang ghìm chỉa hăm doạ. Mặt kẻ chiến thắng vênh váo khoái trá; thêm một dịp vừa chia chát tiền vàng cướp được bửa nay, vừa lập công với đảng, dâng thành tích lùng bắt những “thằng phạm”, “con phạm” vượt biên.
    Chữ nghĩa của cộng sản gọi đồng bào mình như thế đấy!
Thế đấy, đồng bào đã “phạm” cái tội mà cái đảng và bạo quyền cộng sản rất là căm thù cấm kỵ, đấy là “tội” tìm Tự Do!
       Bây giờ ngồi đây, Vinh ngước nhìn lên cây đà ngang trên trần nhà, nơi hai người đàn ông đã từng bị trói treo trên ấy để chúng nó tra khảo; Vinh ngẫm nghĩ, biết đâu, có ngày, xác mình cũng bị công an kéo về, treo lên trên đấy, để chúng nó hăm doạ những người còn toan tính vượt biên.Vinh như còn thấy đó, trong góc phòng, thức ăn dưới tàu bị tịch thu chất đầy trên mặt bàn. Tai Vinh còn nghe vang dậy tiếng khóc thét kinh hoàng của mấy đứa trẻ con trên tàu bị lũ công an hung bạo bợp tay té nhào, vì đã ngây thơ dám mó tay vào những bánh thịt trên bàn.
Lòng xót đau, nhưng Vinh không ngạc nhiên trước thái độ bất nhân của những con người mệnh danh là công an nhân dân, bộ đội nhân dân, những kẻ tự hào xưng tụng mình là cộng sản. Trong trại tù, thân nhân đến nhận xác tù nhân bất hạnh đã từng bị bạo quyền cộng sản cấm không được khóc thương.Họ cho rằng, sự thương tiếc người phạm tội tức là bày tỏ thái độ bất mãn chống đối lại phán quyết kết tội của đảng. Đảng đã can tâm cấm đoán nước mắt xót thương thân quyến đã phải chết trong ngục tù của cộng sản.
Có phải chăng, chủ nghĩa cộng sản đã huỷ diệt linh hồn con người, biến những kẻ cầm súng theo chúng nó trở thành động vật mất nhân tính, hết tình người cùng nghĩa đồng bào; chỉ biết cúi đầu và gục mặt để tôn thờ, để phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản bạo tàn?!
Ngước mắt ngó lên trên bến trạm,
Nhìn những thuyền nhân bị bắt về.
Tay trói, gục đầu, lời đã cạn.
Tiếng khóc trẻ thơ, dạ tái tê.
Nhìn người, chợt thấy mình thân thuộc
Tôi khóc hay sao, nước mắt nào?
Tự Do ơi hỡi, tim xót buốt!
Dân tôi bất hạnh lắm thương đau!
– Ê,… có tin vui!
Nghe tiếng anh Hai, Vũ và Vinh quay lại, thấy anh Hai đang đi tới.
Anh hớn hở báo tin:
– Chiều nay mình về! Anh mới lên văn phòng nhắc lại vụ cho tàu nằm bến. Họ nói, công nhân trên trạm ăn cơm xong, khoảng sáu giờ sẽ xuống hàng. Có bao nhiêu thì tàu mình chở bấy nhiêu.Chút nữa mình chạy về.
– Bắt mình neo tàu chờ hết ba ngày… ép lắm rồi!
Vũ càu nhàu, nhưng hài lòng lắm. Anh Hai vui vẻ bảo:
– Anh coi tàu cho, hai anh em lên quán kiếm gì uống đi.
Vũ đứng dậy, vỗ vai Vinh:
– Đi mày, tụi mình lội đi kiếm cà-phê uống chơi! Cà phê sữa hả anh Hai?
– Ừ,… gì cũng được mà. Hai đứa cứ đi, anh nằm nghỉ một chút!
Anh Hai cười dễ dãi với hai thằng em.
Đi ngang qua cái bàn nước gần văn phòng, Vũ dừng lại, mượn cái ly, cầm theo để đựng cà phê đem về cho anh Hai.
Đúng là lội!
Đường lên quán cà phê rất hẹp, vừa đũ cho hai người tránh nhau. Mặt đường trồi sụp, uốn ngoằn nghoèo sát theo hai bên nhà vách lá cũ kỹ. Bùn trơn trợt và uớt nhão giữa các kẽ ngón chân.Có chỗ, người ta phải lom khom bước lên trên thềm nhà, mái lá thấp là sà trút nước mưa ngay lên người đi bên dưới.Dân làng nghèo, sống khắc khổ.Đánh lưới được tôm cá ngon, gia đình không dám ăn, phải bán đi để mua gạo, mua dầu. Quán sống được là nhờ vào công nhân viên, người làm ăn buôn bán xa nhà.
Quán cà phê chỉ là căn nhà nhỏ vách lá, như những căn nhà hàng xóm. Ánh đèn dầu vàng, đủ soi sáng không gian gồm bốn cái bàn gỗ thấp. Hai bàn đã có khách ngồi.Bên các thức uống như cà phê, nước ngọt, dĩ nhiên không thể thiếu rượu.Rượu trắng, rượu thuốc và đồ nhậu như khô mực, cá khô chất bầy ra trên quầy.Vũ uống rượu vững lắm, nhưng anh em trên tàu không ai ghiền rượu, chỉ uống cho công việc chạy chọt được trơn dễ mà thôi.
Có chuyến chạy tàu coi như có tiền vô, Vũ và Vinh tự khao mình ly cà phê trước.
Như các quán bình dân trong thôn xóm, quán chỉ có loại cà phê “kho”. Loại cà phê pha sẵn và ngâm nấu trong bình để giữ nóng. Vị cà phê đậm đắng, có mùi khen khét hơn là thơm cà phê. Chẳng biết trong thời buổi hàng hoá đã bị cộng sản cai trị, mọi thứ nhu yếu phẩm đều phải sắp hàng chờ mua ở hợp tác xã, người ta cùn túng đã rang nướng những thứ chi để pha trộn thành bột đen và gọi là cà phê. Riết rồi cũng quen dần hương vị, nhưng có đường hay sửa ngọt thêm vào thì dễ uống, ngon miệng hơn.
Quán vùng dân nghèo, được uống ly cà phê sửa như thế này là đã sang lắm rồi!
Hết rồi, Vũ và Vinh không dám ước mơ được thưởng thức lại hương vị độc đáo của từng giọt cà phê như trước đây. Dưới tàu có hộp cà phê, chịu khó nấu nước pha một chút cũng có chất nước đậm đắng để nhâm nhi vậy. Nhưng dầm mưa lội trong bùn sình ra quán, ngồi uống cũng cái thú vị “ngồi quán” uống cà phê.Hơn nữa, tạo dịp đi lanh quanh làm quen trong xóm cũng có nhiều hữu ích, biết qua tình hình địa thế trên đất liền.Có dịp la cà quanh xóm, để công an, đám quân võ trang, cùng dân làng quen mặt vẫn có lợi hơn sau này.
Tối nay chạy về , nhằm lúc chạy ngược giòng nước, ít nhất cũng phải sáu tiếng đồng hồ mới về tới bến. Vũ coi máy, anh Hai với Vinh thay nhau cầm lái.Ba anh em sẽ phải thức đêm để chạy tàu về. Quán không đông người, hai đứa cứ thong thả ngồi nhâm nhi cà phê, để yên cho anh Hai nằm nghỉ ngơi trước. Cũng như anh Hai, Vũ rất khéo ăn nói, lại từng trải về làm ăn buôn bán, nên Vũ đối đáp và bắt chuyện với mọi người chung quanh rất dễ dàng. Tuyệt nhất là những bài vọng cổ của anh Hai. Có anh Hai ngồi ăn nhậu chung, thế nào cũng có người yêu cầu anh làm vài bản vọng cổ; không mồi ngon người ta cũng thấy buổi nhậu hứng thú, thật đậm đà. Nhờ có anh Hai và Vũ, mấy anh em hoà nhập vào đoàn tàu và dân cư xung quanh dễ dàng hơn.
Chuyến chạy về này, không có bao nhiêu thùng hàng.Tất cả các thùng hải sản đã được ướp nước đá giữ cho tươi và cất trong phòng nước đá từ mấy hôm trước rồi.Bây giờ, công nhân chỉ mở nấp thùng ra, kiểm lại từng thùng và đổ thêm nước đá xây vào để tôm cá có đủ độ lạnh.Chừng một tiếng đồng hồ, các thùng hải sản được chuyển xuống chất gọn trong khoang tàu.
Vũ cho máy chạy.
Mấy ngày nay, mới được nghe lại tiếng máy tàu mình.Tiếng máy tàu nhắc nhở và cho Vinh niềm hy vọng, còn có một ngày tàu sẽ đưa mình ra khơi. Từ đây, chỉ cần may mắn phóng tàu ra ngoài biển, chạy hết tốc độ chừng ba mươi phút là coi như thoát được gông cùm cộng sản.
Khởi từ điểm này, thoát đi không khó lắm. Cái khó là làm sao rước đón được gia đình thân hữu lên tàu, lọt qua tai mắt của công an cùng các tàu tuần và trạm kiểm soát biên phòng, trước khi ra đến trạm thu mua này. Đứng ngoài mũi chờ tháo dây, Vinh nhìn đại dương rộng mở đợi chờ, lòng bồi hồi ước mơ.Đến đây bao nhiêu lần rồi, nhưng tàu lại lấy hàng rồi lại phải quay trở về.
– Tụi tui đi nghen!
Tiếng anh Hai gọi lớn từ giã người trên trạm, nhắc Vinh trở về thực tại.Chú trưởng toán công nhân, sốt sắng bước xuống cầu tháo dùm dây, hẹn với anh Hai:
– Ừ!… dìa đi, ít bửa rồi mấy anh em ra đây nhậu tiếp!
Chờ Vinh đón chụp khoanh dây xong, chú Sáu xô mũi tàu ra ngoài, cười thân mật:
– Rồi, chạy đi!
Vinh cám ơn chú, chống sào đẩy mũi tàu cho xoay thêm ra ngoài. Anh Hai kéo cần lái qua phải và tăng thêm tốc độ, đem mũi tàu quay ra khỏi bờ, rồi chạy vòng vào lòng sông dẫn về thành phố.
Tàu rời bến, người trên trạm cũng tản mác, về nghỉ ngơi.Đèn trên trạm tắt bớt, chỉ còn vài bóng ánh vàng mờ mờ trong vài gian nhà công nhân.Đêm tối, trời mưa, tàu thuyền vắng, Vinh tiếc rẻ ngoái lại nhìn biển cả đang xa mờ dần phía sau.
Kéo đầu cây sào trong nước thêm một lúc, để rửa cho sạnh bớt bùn sình của đáy sông đã bám vào.Vinh gát cây sào tre nằm tựa vào trong lòng khoang, rồi đi lên mui ngồi vấn thuốc hút, chuyện trò với anh Hai và Vũ.
Tàu chở ít, nhẹ, nhưng gặp lúc giòng nước trong sông đang đổ ra biển, phải chạy nước ngược về nên không chạy nhanh được.Ngoại trừ tiếng máy dầu cặn và đèn từ tàu, sông nước tối vắng.Chạy suốt hơn một giờ, không thấy bóng dáng chiếc tàu nào.Thời gian này, không ai đi đánh cá về, và cũng không thấy tàu ra biển. Tàu ra biển thì chỉ có tàu công an đi tuần hay tàu vượt biên mà thôi. Còn tàu của dân chúng trở về lúc này thì chỉ có đi vượt biên chạy lạc hướng hay bị biển động phải quay vào.
Anh Hai gọi Vinh:
– Linh coi lái tàu cho anh nghen!… hồi chiều ăn sớm quá, chắc ai cũng sót ruột, để anh xuống nấu miếng cháo anh em mình ăn thêm.
Anh Hai siêng và chịu nấu ăn lắm. Anh làm thức ăn ngon, chế biến đồ nhậu rất tài tình, nhất là món canh chua của anh thật là hấp dẫn, đưa cay rất tuyệt.
Vào trong sông có phần bớt gió, nhưng mưa cũng còn khá nặng hạt.
Về khuya, đoạn sông thưa vắng nhà dân, lâu lắm mới thấy ánh đèn trên bờ.Ít nhà, ít có lưới đáy giăng. Đã quen thuộc lòng sộng này, thỉnh thoảng Vinh mới mở đèn pha xem chừng sông nước và cột đáy. Cần dưởng máy để chờ thời cơ, Vinh cho tàu thong thả chạy về bến nhà.
Đêm vắng buồn mênh mang, nhớ gia đình, nhìn tương lai Vinh thấy sao vẫn mờ mịt như bầu trời đêm nay!
Tâm trí đang lơ mơ trong đêm vắng mênh mông, bổng Vinh nghe như có tiếng súng. Loạt đạn ngắn, nghe xa phía trước.
Vinh gọi xuống bên dưới mui:
– Ê Vũ , mày có nghe gì không?
Vũ ngó bạn mình có vẻ ngạc nhiên. Vinh phân bày tiếp:
– Hình như có tiếng súng bắn… đâu đằng trước tàu mình!
– Anh chỉ nghe máy chạy đùng đùng!
Anh Hai nhìn lên, nói với Vinh rồi quay lại với nồi cháo của mình.
Vũ tin bạn lo lắng, vội đứng nhóng người qua khung cửa trổ lên mui, nhìn ra phía trước nghe ngóng rồi lắc đầu bảo Vinh:
– Ở dưới máy chạy ầm ầm, tao với anh Hai có nghe gì đâu!
– Ừ, tiếng súng còn ở xa, chắc trên này mới nghe được.
Hai đứa lặng yên lặng, lắng nghe một lúc cũng không nghe thêm tiếng súng nào cả.Vinh nghỉ, cũng có thể mình nghĩ ngợi lắm chuyện nên trí óc lầm lạc.
Vũ vấn và đốt cho Vinh điều thuốc.Đứng hút thuốc, nhìn mưa đêm, mỗi đứa đều có lắm ưu tư, chẳng ai còn muốn nói với nhau tiếng nào. Đêm khuya, có tiếng súng gần khu trạm công an biên phòng, thường vì có tàu của vượt biên bị đuổi bắt. Lại phải chứng kiến cảnh bà con mình bị hành hạ hay xác dân lành trôi dạt trên sông nước. Trách nhiệm và an toàn cho thuyền nhân trên tàu trong ngày vượt biển, lắm điều nằm ngoài khả năng của ba anh em trên tàu. Tính toán thành hay bại, sống hay chết bị tuỳ thuộc vào Ơn Trên, số mạng may rủi.
Vinh mở thêm đèn trên mui tàu, và dùng đèn pha thường hơn để đám tàu biên phòng thấy, hy vọng chúng nó có rình rập đâu đó, không nghi ngờ bắn vào tàu mình…
Anh Hai, cầm tách nước trà lên mui ngồi với Vũ và Vinh:
– Cháo chín!… Anh ăn xong rồi…. Để anh coi lái cho Linh, hai đứa xuống ăn đi.
Giao cần lái cho anh Hai, hai thằng em cám ơn anh và cùng tuột xuống bên dưới mui kiếm cháo ăn.
Mặc dù không còn gạo thơm ngon như thời trước khi bọn cộng sản cướp nước, cháo của anh Hai nấu vẫn hấp dẫn lắm. Anh tỉ mỉ từ việc canh lửa, canh nước, quậy cháo… Hạt gạo bong nhừ, tự mỗi muổng cháo trắng cũng đã ngon, thêm chút vị mặn béo của trứng vịt muối thì ngon tuyệt vời.
Trong trại tù cộng sản, cơm là gạo mốc và sâu quệnh thành từng cục to muốn bằng nắm tay, lại trộn các thứ khoai hư khoai sùng. Vậy mà, hôm nào được bạn tù chia cho miếng nước cơm gạo sâu cùng khoai sùng, ai cũng thấy ngon béo lắm. Nhâm nhi uống chầm chậm chất nước ấy cho lâu hết. Quý vô cùng!
Tối nay, có gạo để nấu cháo, mấy anh em may mắn lắm rồi!
Dân nghèo bây giờ chỉ còn biết trông mơ có được bát cơm, nấu bằng hạt gạo như ngày xưa.
Thế đấy, cái đảng cộng sản chết tiệt lại gọi là “giãi phóng”!
Ăn uống xong, Vũ với Vinh leo lên mui ngồi hút thuốc nói chuyện với anh Hai, cho có anh em.
Tiếng súng lúc nảy, như còn văng vẳng trong đầu, câu chuyện của ba anh em có vẻ lừng khừng, rời rạc.
Nhưng rồi, ngồi hút điếu thuốc chưa xong, bổng có loạt đạn, bắn đến hướng mình. Chưa kịp nhận định được chuyện gì xảy ra thì thêm mấy loạt đạn ngắn bay tới tấp, nghe chát chúa trên đầu.
“Phựt!”
Đèn pha sáng rực rọi thẳng vào tàu.
– Dừng lại!
– Công an biên phòng đây!
Rào!
Rầm!
Cùng lúc với tiếng loa gọi, bóng dáng chiếc tàu đánh cá cao lớn, dựng mũi rẽ nước, phóng ào ào tới, rồi quặt lái sàng ngang nhập vào hong tàu Vinh.
Rầm!
Rầm!
Sức ép của chiếc tàu công an đè dẹp mấy cái vỏ bánh xe treo bên hong, đùa chiếc tàu chở hàng thấp nhỏ chao đảo, chênh vênh như muốn lật nghiêng.
Anh Hai vội vã hạ thấp tốc độ.Vũ thả nhanh người xuống dưới mui, gài trả về số lui, để thắng tàu lại.
Nhờ chạy ngược nước, tàu dừng lại thật nhanh.
Phập!
Cây móc từ tàu công an cấm lên mũi tàu, kéo ghịt tàu chở hàng vào.
Rầm!
Vinh vội chạy ra mũi, thả vòng vỏ xe xuống, để chêm thêm giữa mũi tàu đang bị sóng nhồi, va đập mạnh vào thân gỗ cứng cáp của loại tàu đánh cá của công an.
Đón cuộn dây thằng công an thẩy qua, Vinh nhanh tay quấn ghịt vào tàu mình, cho hai tàu kè sát nhau để bớt va chạm.
– Đ.M. tàu vận chuyển của thằng Hai hả?
Anh Hai lớn tuổi, thủ vai chủ tàu.
Ba Thơ, trưởng phòng vận chuyển, thường hách dịch gọi tàu của mấy anh em là “tàu của thằng Hai”.
Hắn đứng ngay ngoài mũi tàu, lên tiếng hỏi và nhảy sang trước.
Một tên công an ôm AK phóng nối theo ngay.
Nhiệm vụ của Ba Thơ chỉ lòng vòng trên văn phòng xuống bến tàu, nhưng hắn khoái đeo súng đi theo công an bắt ghe tàu vượt biên lắm. Đối với hắn, lợi nhiều thứ lắm.Vừa tạo thành tích nhiệt tình, lập công dâng đảng, vừa có phần chia chát trong số tiền vàng cướp được từ thuyền nhân.
Nghe tiếng Ba Thơ, Vinh yên tâm đôi chút.
Hắn nạt hỏi hung hãn cho ra vẻ có uy quyền mắng la dân chúng, chớ hắn đã quá quen thuộc hình dạng từng chiếc tàu chở hàng cho công ty.
Nghe hắn lớn tiếng hỏi thế, tức là hắn đã biết tàu và mấy anh em trên tàu, thì chắc là cái đám công an sẽ không xét hạch giấy tờ tuỳ thân cá nhân của mọi người.Dùng lý lịch của em trai, Vinh phải cố né tránh bị hỏi giấy tờ.
Nhìn đống thùng hải sản nằm trong mấy tấm nhựa che mưa gió, Ba Thơ nghi ngờ, hất hất khẩu K54 trên tay ra lệnh cho Vinh:
– Chở bao nhiêu đứa vượt biên hả?… dở tấm bạt lên cho tao coi!
Nghe Ba Thơ la hét đòi xét tàu, thêm hai tên công an xách súng phóng sang, rầm rập chạy lại đứng bên Ba Thờ chờ kiếm ăn.
Đứng gần mấy thằng công an mặt vênh váo, máu hận trong Vinh sôi sục. Nhìn cái lối tay Ba Thơ cầm cây K54 lúc lắc, miệng chỉ lo láp váp, Vinh ngứa tay lắm, muốn đánh giật lấy cây súng của Ba Thơ. Kề súng vô đầu Ba Thơ là ba thằng nhóc công an trên tàu đứng ngớ ngáo đó phải quăng hết súng đạn xuống sàn tàu ngay tức khắc. Cái đám bên tàu biên phòng mà dám bắn sang, thì ít nhất bốn thằng đồng chí đồng rận với chúng nó phải chết trước!
Vinh ráng nhịn nhục, nhảy xuống khoang tàu, kéo các tấm bạt cho bày các thùng hàng ra, để Ba Thơ và đám công an muốn kiếm ai thì kiếm. Bốn tên phách lối lăng xăng xúm xít. Đứa lật ván lót trên khoang tàu, đứa rọi đèn tìm kiếm dưới hầm máy.
Không thấy ai là người vượt biên trốn trên tàu, Ba Thơ xoay qua dồn dập nạt nộ, hạch hỏi tiếp:
– Đ.M.!… tụi mày mấy hôm nay chạy tới đâu rồi?…. tao biết lắm mà!… biển động quá mà!… mới quay lại phải hong?… Đ.M!… giấy chở hàng đâu?
Lợi dụng cơ hội để tránh đứng gần mấy thằng công an, Vinh quay người bước đi nhanh lên mui:
– Để tui lên giữ cần lái cho anh Hai xuống lấy giấy tờ…
Anh Hai nghe và hiểu ý Vinh lên tiếng ngay:
– Vinh lên giữ cần lái cho anh xuống lấy sổ vận chuyển trình chú Ba!
Đưa sổ sách giao hàng cho Ba Thơ xem.
Nhìn tên công an soi đèn cho Ba Thơ đọc, anh Hai nhẫn nhục cười hề hà thăm hỏi:
– Có chuyện chi vậy chú Ba!… tụi tui nằm húp cháo ngoài ngoải mấy bửa nay, trạm mới cho xuống hàng để chạy dìa đây mà chú?
Ba Thơ lầm lì không trả lời, lật qua lật lại, đọc tới đọc lui mấy sổ vận chuyển, ký nhận số lượng và ngày giờ đi đến bến.
Cũng may, nồi cháo nấu và ăn với hột vịt muối còn đó. Ba Thơ đang quạu quọ vụ lùng kiếm tàu vượt biên giờ lại bắt được chứng cớ lấy tôm trong thùng của công ty nấu ăn thì thật là khổ với hắn đêm nay!
Không tìm được chứng cớ sai sót, đưa trả sổ sách lại cho anh Hai, Ba Thơ hằn học ra lịnh:
– Tụi bây!… Chở tao với mấy đồng chí đây đi kiếm tàu vượt biên!… Đ.M.!… mới thấy đó, nó lủi trốn đâu mất. Tao tìm thấy, tao nẹt cho bể đầu hết!
Anh Hai tìm cách kèo này:
– Chú Ba biết mà, cái máy tàu tụi tui nó rề rề lắm, mần sao mà chạy đuổi với bắt được ai chú Ba ơi!
– Đ.M. cần gì chạy cho lẹ mậy!…Có tàu tụi bây dí chận nó, tao kêu tụi biên phòng tới bắn chết mẹ nó hết.
Cho dù máy có đủ mạnh, lòng dạ đâu mà giúp sức cho bọn cộng sản, anh Hai nhanh trí kiếm cách gỡ rối:
– Trình chú Ba, mấy chục thùng tôm này bị nằm kho cả ba bốn ngày nay rồi đó chú Ba. Ngoài trạm sợ hư mới kêu tụi tui chở dìa công ty ngay trong đêm nay. Bây giờ chú bắt tàu chạy lòng vòng, chậm lục quá đỗi bị tan hết nước đá, tui sợ tôm nó thúi hết đó chú Ba à.
Hải sản và vận chuyển là trách nhiệm chính của Ba Thơ, chớ không phải đi lùng bắt vượt biên. Ba Thơ sợ tôm hư bị công ty khiển trách, nhưng còn ráng nạt bừa:
– Lải nhải cái con mẹ gì!… tụi bây muốn chạy dìa thì tao cho chạy đó… Đ.M.! tao đi với biên phòng!
Khoát tay bảo ba tên công an còn đang đứng tần ngần chờ lịnh:
– Đi! Đi về tàu với tao!
Ba anh em nghe reo vui, thật nhẹ nhõm trên người.Còn xót đau nào hơn, khi phải chở cái loài dã thú này đi lùng bắt đồng bào mình.
Anh Hai đi theo sau Ba Thơ và cái đám công an ra ngoài mũi, chờ tụi nó lên hết để tháo dây ngoài mũi.
Ba Thơ leo về tàu xong, hắn quay lại tay lăm le cây K54, hất mặt gằn giọng hù doạ anh Hai:
– Tụi bây! khôn hồn à nghen!… có thấy tàu tụi nó trốn đâu, về báo văn phòng, thì được nhà nước thuởng công cho, còn mà ngu khờ đồng loã với tụi vượt biên, tao bắn nát đầu hết!
Thẩy cuộn dây lên trả lại cho thằng công an, anh Hai chống tay vào thành chiếc tàu biên phòng xô cho tàu mình dạt ra, miệng nói vuốt theo cho êm xuôi:
– Dà… có gì là tụi tui báo cho chú Ba hay ngay mà!
Ba Thơ làm như không thèm nghe anh Hai nói, hách dịch quay lưng nạt vọng lên phòng lái:
– Chạy đi! Đ.M.!… chờ cái gì nửa!
Chiếc tàu công an biên phòng hụ máy tách ra xong, thì quay đầu rồi rú máy phóng vọt ào ào ra hướng cửa biển. Phút chốc đã mất bóng dáng, rồi thấy loáng thoáng ánh đèn pha lùng kiếm xa phía sau.
Chiếc tàu ấy là tàu đánh cá của đồng bào mình, máy và tàu còn mới để vượt đại đương, không may bị chúng nó bắt. Tụi biên phòng lấy chiếc tàu đánh cá ấy làm tàu đi tuần, đi bắt tàu vượt biên.Thấy cách nó chạy là biết máy của nó lớn mạnh lắm, chớ không loàng xoàng như cái John Deer già nua trên tàu. Không quen biết với tình hình địa phương, bà con mình dễ lầm tàu công an biên phòng chỉ là tàu đánh cá của ngư dân. Chừng biết được chính nó là tàu của công an là đã quá muộn màng.
Tụi nó thâm độc lắm!
– Mình dọt được rồi!
Vũ nói với Vinh và gài số cho tàu chạy tới.
Bị tàu biên phòng kè nãy giờ, hai chiếc thả trôi nằm xoay ngang.Nước ngược, đẩy tàu của ba anh em lùi một đoạn khá xa ngược ra hường cửa biển. Sẵn đứng trên mui giữ tay lái, Vinh lấy lại hướng và cho tàu chạy về bến công ty.
Anh Hai cuộn vòng giây để trên nấp hầm xong, đi lên mui và đến ngồi cùng băng ghế với Vinh. Vũ vẫn đứng chồm người qua khung cửa trổ lên mui, khoanh tay gát trên nấp mui. Ba anh em ngó mông lung trong màn đêm, thẫn thờ cầu nguyện cho đồng bào mình gặp được nhiều may mắn, trốn thoát khỏi móng vuốt loài quỷ đỏ cộng sản đang lùng kiếm.
Tự Do ơi Tự Do!
Ngày nào còn cộng sản, quê huơng mình còn lắm ly tan, lắm đoạ đày!

Tác Giả: Bùi Đức Tính(saigonecho.)

No comments:

Post a Comment